Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Mười Một, 2018

Bút ký: Kiều Maily.
Quảng Nam ngày về. 06-2017

LINH MỤC ANTÔN NGUYỄN TRƯỜNG THĂNG,
TÔI ĐÃ GẶP CON NGƯỜI ẤY NHƯ THẾ!

Trên chuyến tàu lửa dài dặc, chị huyên thuyên về “Cha”, về tình yêu của Cha với di sản Champa, về chắt chiu của Cha với di vật bị bụi thời gian phủ mờ như quyết làm cho vô danh. Tôi cứ đưa trí tưởng tượng về con người ấy theo câu chuyện của người đồng hương đồng hành. Như thể chúng tôi đang quay trở về một quá khứ, huyền hoặc mà thực hơn bao giờ.
Làm sao một vị Linh mục của đạo Công giáo mà lại tâm huyết đi tìm nguồn gốc ông bà tổ tiên Champa, sưu tầm và cất giữ những ký ức hằng bao thế kỷ trầm lắng như thế? – Suốt hành trình, câu hỏi ấy cứ trở đi trở lại với tôi.
Nghe kể rằng trước 1975, vị Linh mục người Pháp: Cha Moussay, như người Chăm thường gọi thế, đã sở đắc tình yêu ấy. Cha dựng Trung tâm Văn hóa Chàm tại Phan Rang, và Cha đã tập hợp được nhiều trí thức Cham đến làm việc, sưu tập văn bản chép tay cổ, tổ chức biên soạn được Từ điển Chàm – Việt – Pháp nhiều sáng giá, cạnh đó Trung tâm này còn biên soạn và cho ra mắt các thi phẩm cổ giá trị như Akayet Dewa Mưno, Akayet Inra Patra, Ariya Glơng Anak cũng như các văn bản truyện cổ gọi chung là Khảo lục Nguyên cảo Chàm xuất bản được bốn tập.

Có lẽ Linh mục Nguyễn Trường Thăng là Cha Moussay thứ hai chăng? Hứng khởi và tò mò dâng lên trong tôi không thể nói thành lời. Hứng thú, vì như là tổ tiên mình được sống lại mấy ngàn năm nay, tò mò bởi muốn biết người Linh mục ấy như thế nào.
Rồi chuyến hành trình cũng có điểm đến.
Bến ga tàu vào 3 giờ sáng vắng hoe không bóng người, hai chị em ngồi ghế phòng chờ đợi trời hé mắt. Thoáng chốc, một làn nắng mát rượi chào đón chúng tôi tại ga Đà Nẵng vào một ngày mới. Tôi nghe từ tiếng thì thầm như trong giấc mơ góc chỗ gửi xe, một ông chú dáng cao ráo, da ngâm sạm hỏi:
– Cháu là người Chăm hay người Ấn?
Bộ váy áo trên người hay vận ngay ở Sài Gòn, tôi đã nhiều lần nhận câu hỏi tương tự, thế nhưng ở đất này sao mà nghe lạ lẫm.
– Cháu là người Chăm Phan Rang, – tôi trả lời.
Người đàn ông nhìn tôi với cặp mắt thân thiện.
– Hồi xưa bà cố chú là người Chăm và bà có đôi bàn chân dài, và cặp mắt của bà rất đẹp như cháu vậy. – Chú có vẻ hơi dài dòng với người lạ, tôi nghĩ.
Tôi cười nhẹ.
– Chú cho chúng cháu thuê một chiếc xe máy, – tôi nói.
Người đàn ông ấy như vẫn chưa thỏa, tiếp tục dòng suy nghĩ của mình:
– Chú cũng là người gốc Chăm đó, nên khi thấy người Chăm là chú nghe mến, cháu à. Lẽ ra các chú phải cảm ơn người Chăm rất nhiều vì vùng đất hiện tại chú đang ở là của người Chăm, chắc cháu cũng biết.
Tôi cảm thấy ấm áp khi nghe những câu này từ một người giữ xe ga tàu, một phần cũng thấy sướng.
– Dạ, chú nói rất đúng ! – Tôi cười.
Nắng miền Trung bắt đầu gắt đã kéo chúng tôi ra khỏi cuộc trò chuyện. Với chiếc xe máy được thuê tạm, tôi đèo chị Kim Thoa lao đi trong nắng như đi trong cơn mê sảng tìm về người Cha để tìm ngược về nguồn cội.

Và đây là con người ấy!
Thời gian này Cha đang trong thời gian điều trị căn bệnh quái ác: Ung thư bạch cầu. Nhìn qua dáng vẻ gầy ốm của Cha, tôi thèm làm cái gì đó cho Cha, nhưng cảm nghe sự bất lực. Căn phòng bệnh viện yên tĩnh, tôi chìm lặng vào câu chuyện của Cha về cuộc sống và về Chăm, về những trải nghiệm của mình.
– Thưa Cha, tình yêu văn hóa Cham đến với Cha tình cờ hay do Cha phát hiện được những di vật quý giá, từ đó khơi dậy trong Cha những cảm xúc sâu sắc hơn? – Tôi hỏi như thể một nhà báo đi phỏng vấn một nhân vật. Biết mình hớ, tôi ngưng đột ngột. Tôi biết Cha đoán được ý tôi, Cha vội khoát tay:
– Không sao, không sao cả đâu…
Hồi Cha mới còn là cậu thiếu nhi mười tuổi, những chiều sẩm tối, một mình bước vào Bảo tàng Chàm ở Đà Nẵng, Cha thấy lạ và nghe sờ sợ. Đến năm 1954, khi học ở Nha Trang, Cha thường lên đồi Tháp Bà ở Nha Trang, cảm giác ấy vẫn còn trong Cha.
Mãi sau này trên các chuyến xe lửa hoặc xe hơi suốt duyên hải Miền Trung, Cha say mê trước những đền tháp trên các ngọn đồi hoang vắng. Rồi qua sách báo, Cha biết ít nhiều lịch sử và văn hoá Champa, từ đó văn hóa Champa thấm vào Cha ngày càng sâu thẳm, thẳm sâu hơn.
– Trong quá trình sưu tầm và nghiên cứu, dĩ nhiên Cha có những kỷ niệm không thể quên được, đâu là kỷ niệm mà Cha cho là sâu sắc hơn cả?
Năm 1975, qua tuổi tam thập, Cha giã từ giấc mơ du học trở về Đà Nẵng nửa tháng sau sự kiện 30 tháng 4. Đầu tháng 6, Bề trên chỉ định Cha về xứ Trà Kiệu nghe rằng là Sư tử Thành, kinh đô Champa xưa. Ngoài những tên gọi và các lũy thành còn sót lại, khó thấy đâu là những dấu vết Champa.
Rồi một ngày, các em nhỏ khoe với Cha chúng tìm thấy một con rùa bằng đất nung và chúng đã đập ra. Nghe thế Cha giật mình, tiếc xót. Nhưng chúng bảo là chỉ bể một phần thôi. Cha vội vàng yêu cầu chúng bán lại cho mình. Con rùa nầy về nghệ thuật không có gì đặc sắc lắm nhưng bao năm qua nó vẫn là một bí ẩn, một kỳ bí đối với Cha.
Các em kể lại, khi đào nó lên từ lòng đất, các em rung và nghe tiếng loong coong trong bụng nó. Ý tưởng đầu tiên là “trúng mánh”, chắc là vàng chứa trong nó. Vì vậy không thể làm gì hơn là phải đập nó ra. Nhưng vàng không thấy đâu mà chỉ có những hạt gốm nung tròn tròn nho nhỏ.
Từ đó Cha bắt đầu thu lượm những di vật còn sót lại xung quanh khu vực kinh thành Trà Kiệu xưa. Rồi với thời gian, bộ sưu tập tăng dần lên. Vậy mà suýt nữa chúng đã trở thành tro bụi đấy – khi vào khoảng năm 1985, ông Phó chủ tich nước bước vào nhà khách – lúc đó Cha đang ở Sài Gòn – đã hách xì xằng tuyên bố: “Ai cho phép sưu tập những món đồ này”. Nếu ở nhà Cha sẽ phản ứng mạnh, dùng búa đập nát mấy thứ và ném ra suối rồi. May quá!
Sau đó, thời kỳ Hợp tác xã Duy Sơn 2 nổi tiếng như cồn đến cả nước đều biết. Rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà báo… đến thăm. Tiếp đó chỉ có thuận lợi và thuận lợi. Cuối năm 1989, Cha được lệnh chuyển về Đà Nẵng, tuy thế khi nào có dịp là Cha tiếp tục công việc sưu tầm của mình.

Sau vài giờ hàn huyên, và có lẽ Cha đã mệt. Cha bảo chị em tôi về thăm Trà Kiệu, nơi Cha gắn bó cả đời mình cũng là nơi cất giữ những dấu ấn Chăm qua bao thế kỷ. Xe máy hai chị em tôi lại tiếp tục lăn bánh trong cái nắng giòn. Do chưa thấu ngõ đường nên định vị hơi khó khăn, chúng tôi phải đi lòng vòng, hỏi đường. Mãi rồi cũng tới nơi cần tới.
Đất xứ Quảng thắm tình người. Dưới cái nắng hè bỏng rát, tôi cứ men theo đường mòn mà nhấn ga. Mãi tới lối mòn gần Trà Kiệu mới xuất hiện hàng cây xanh rợp bóng mát. Tôi dừng xe lại, xuống xe và đi về phía góc đường, cố thu vào mắt mình toàn cảnh và tận hưởng khí trong lành, cũng tranh thủ bấm vài pô ảnh đoạn đường vừa đi qua.
– Đây là con đường chị đi thường ngày những năm trước. Cũng hơi quên, cảnh vật thay đổi nhiều quá đi thôi. – Chị Thoa nói, lát sau chị thêm:
– Đi thêm xíu, ta sẽ gặp làng Phước Kiều thuộc xã Điện Phương, là làng chuyên về nghề đúc đồng và bán đồ cổ về đồng. Ở đó người ta bán vật dụng cổ của Chăm mình, như nồi đồng, chiêng, ống nhổ đủ loại.
Mới nghe mà đã thích rồi. Quả như chị nói, chạy xe giữa hai bên đường, nhà nhà bày các vật dụng bằng đồng đủ loại, đủ kích cỡ để chào đón khách. Do phải đi việc chính nên tôi đánh mất cơ hội ghé qua xem tận mắt cách làm đúc đồng của người dân nơi đây.
Con đường vàng nắng chiều đổ bóng xen vào giữa lòng bóng tán cây. Vừa chạy tới khúc cua ngắn thì hiện ra trước mắt tôi một vùng cây điệp bao quanh tòa giáo xứ. Hàng điệp nghe chị Thoa kể chính Cha là người chăm nom tưới nước từ chúng còn là cây con trong thời gian Cha giúp giáo xứ xây cất giáo đường. Tôi thử đếm: có gần đến chục cây điệp.
– Chạy chục giây nữa thôi là giáo xứ Trà Kiệu rồi – chị Thoa nói.
Lúc này đang mùa hè, vài học sinh đi lễ chạy ùa ra với chúng tôi. Một cô bé có đôi mắt tròn xinh, kêu:
– Mắt chị giống người Ấn Độ quá hén!
Tôi cười, chị Thoa cười to hơn.
– Người Ấn thật đó cưng, – chị Thoa đùa.
Chúng tôi đi vào một vùng đất rộng lớn, phía bên tay phải tôi là dãy phòng có hai lầu cũ kỹ trưng bày các vật dụng gốm. phía bên trên gắn bảng hiệu với hàng chữ: “Phòng Văn hóa Chăm”.
Người đàn ông dáng phúc hậu bước ra từ căn phòng đó là Cha quản giáo xứ hiện tại. Cha có giọng nhẹ nhàng như nước nhỏ giọt từ mái tranh, ra tiếp chúng tôi. Cha gọi người thầy trẻ tuổi trung niên dáng người hơi ốm, cao thon đến hướng dẫn chúng tôi vào phòng trưng bày.
– Từ ngày vào làm ở đây, thầy chưa từng bước vô căn phòng trưng bày này bao giờ. Đây là lần đầu tiên, – thầy thêm: Chính nhờ hai chị em mà tôi được vào chiêm ngưỡng những vật cổ quý thế này đấy. – Thầy quản xứ nói.
Hóa ra Cha Thăng là người cực kỳ kỹ tính, – tôi nghĩ thầm. Tôi như đi lạc vào một cõi kho tàng giá trị hơn cả vàng bạc mà người Cha ấy đã có công sưu tầm và cất giữ rất tỉ mỉ như thế.
Các cổ vật được cất trong tủ xếp ngăn nắp phân theo từng loại, những họa tiết lạ và độc đáo mà tôi chưa từng thấy được khắc hai mặt, các hủ bình cổ xưa cùng ngói ống và những viên gạch cỡ lớn hơi bị mục, cả viên gạch in dấu chân của người Chăm cổ nữa. Và nhiều cổ vật quý khác. Tôi lần từng bước đi qua từ gian này đến gian khác, thưởng thức như một điều kỳ diệu mà cả đời tôi chưa từng. Trong căn phòng mini này tôi không thể không khỏi xúc động khi xem bức tranh màu nước của Cha vẽ trực tiếp lên bức tường cũ: Bức Tranh mô tả khu đền tháp Simhapura Trà Kiệu.
Cha có kể: Cha đã dành thời gian rất dài cho bức tranh. Lúc đó Cha vừa nghe xong bài hát “Hận Đồ Bàn”, rồi Cha vừa vẽ vừa hát. Vẽ xong Cha lại đốt từng cây nến cho chúng cháy lung linh trong căn phòng chật hẹp đó. Một buổi tối nọ, Cha hát mà không cầm được nước mắt. Cha khóc, và đã khóc rất nhiều, khóc thương cho linh hồn của những đứa con Champa, khóc cho văn minh Champa một sáng lạn oanh nay hoang tàn đổ nát.
Câu chuyện của Cha dậy lên trong tôi một sự đồng cảm khó tả, tôi cứ tưởng Cha chính là người ruột thịt của mình từ kiếp nào ấy. Câu chuyện kia theo tôi đến tận đất nắng Phan Rang, rồi cả khi tôi vào Sài Gòn, nó vẫn còn ám ảnh.

Giáo xứ Trà Kiệu giáp với hai thôn Trà Châu và Kiệu Châu thuộc huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam cách thành phố Đà Nẵng hơn ba mươi cây số về hướng Tây Nam. Được biết Giáo xứ Trà Kiệu được xây dựng trên nền phế tích của lịch sử là kinh thành Shimhapura thuộc vùng Amaravati Champa. Nơi đây đã tìm thấy rất nhiều cổ vật quý sau thời chiến tranh bị bom đạn tàn phá.
Antôn Nguyễn Trường Thăng là Linh mục quản xứ của Giáo xứ Trà Kiệu từ năm 1975- 1989 lúc vừa tròn 31 tuổi. Trên dải đất Miền Trung, những câu chuyện huyền thoại li kỳ từ ngàn xưa ở vùng đất huyền bí về sự giàu có, những kho vàng linh thiêng Chăm, nào là vàng Hời biết đi, vàng tự nhiên hiện ra ở trước mặt đã làm cho sinh linh bé nhỏ Antôn Nguyễn Trường Thăng không tránh khỏi tò mò. Từ đó với tình yêu Chăm, yêu vùng đất nơi cha sinh mẹ đẻ ông đã đi và tìm những chứng tích, những di vật giữa đống đổ nát, qua đó làm tăng thêm ngọn lửa âm ỉ từ tâm hồn bao dung ấy.
Antôn Nguyễn Trường Thăng không chỉ là một linh mục tôn quý về con người về cái tâm thiện nguyện mà ông còn là bậc tiền bối hiếm có. Tuy không phải là một nhà nghiên cứu thực thụ như Cha từng nói nhưng tâm huyết hiện ra từ các bài viết của Cha đã cho thấy một người đầy năng lượng sống.

Tối này chúng tôi quy hồi cố hương rồi. Ghé thăm Cha, tôi biết chắc phải lâu lắm mới có thể gặp lại con người đầy lòng nhân ái này. Tôi tranh thủ hỏi Cha như một phóng viên báo chí thực thụ.
– Cha đánh giá thế nào về những di vật mà Cha sưu tầm được, nó có ý nghĩa gì với Cha và với văn hóa Champa? Cha có hướng gì cho tương lai, với di vật vô giá đó?
– Lúc đầu có lẽ chỉ là thú vui sưu tập, nhưng càng ngày càng thấy không chỉ là sưu tập đồ cổ. Khi một tác giả Pháp cho biết tại các di tích Champa, bảo tàng Champa, người ta coi các công trình Champa như món đồ cổ xưa, của một dân tộc đã lùi vào quá khứ lịch sử tức không có người kế thừa. Cha đã phản ứng mạnh khi suốt dải đất Miền Trung và cả miền Bắc với hàng ngàn tù nhân đa số là thợ thủ công tài ba mà dấu tích khá rõ nơi Kinh đô Hoa Lư và sau này di tích Hoàng thành Thăng Long, dấu ấn gạch ngói, trang trí Champa lồ lộ.
Người Việt Kinh và các dân tộc anh em hãy tiếp thu nền văn hoá Champa như đã từng tiếp thu nhã nhạc, các món ăn, cách kiến trúc, phương tiện đi biển như ghe bầu… Sống trên một đất nước luôn tranh chấp, có kẻ được, người thua, tôn giáo khác nhau, nên dễ xảy tình trạng hạ thấp kẻ thua cuộc. Nếu cứ thế thì dân Việt đừng có dùng từ “đại đoàn kết”, vì đó chỉ là thứ đoàn kết của đống gạch không chất kết dính.
Nghĩ như thế, nhưng những gì mà những nghệ sĩ Champa đế lại nếu biết khai thác sẽ là nguồn cảm hứng vô tận trong tương lai.
Tương lai ư? – Cha nói, mắt nhìn xa xăm như ngẫm ngợi điều gì xa mà gần. Lát sau, Cha nói, giọng từ tốn, chậm rãi – Hiện tại Cha đang sắp hoàn thành xong cuốn sách gồm các bộ ảnh cổ vật Champa, chủ yếu để quảng bá đến thế giới biết về sự huy hoàng của đất nước Champa suốt mười thế kỷ, từ thời lập quốc đến thế kỷ XI.
– Hay lắm, Cha à! – Tôi reo lên. Chúng con đang chờ đọc, và con biết người Chăm ở quê nhà cũng rất mong đợi được cầm trên tay tác phẩm quý giá ấy.

Hai chị em chúng tôi lại tiếp tục cuộc hành trình.
Tìm đến làng quê An Ngãi nơi Antôn Nguyễn Trường Thăng sinh ra và lớn lên. Đây vườn cây vươn lên khỏe khoắn, đây những vật dụng cổ được Cha sưu tầm, sắp xếp ngăn nắp, rồi là vườn thỏ, vườn gà sinh động giống như con người của Cha vậy.
Cầu mong Cha sống vui, sống khỏe và ngọn lửa tinh thần luôn mãi sáng.
Nắng chiều bắt đầu ngả xuống phố đất Quảng thân thương. Tối nay chúng tôi lên tàu trở về với vùng đất nắng gió rồi.

Read Full Post »